TIN TỨC MỚI

  • Tin tức

Thực trạng về nền Y học cổ truyền hiện nay tại Việt Nam (Phần 2)

Tại Việt Nam, Y học cổ truyền Việt Nam (Nam Y) ra đời rất sớm và gắn liền với sự phát triển của truyền thống văn hóa dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đã đúc kết được những kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả. Nền YHCT Việt Nam còn được phát triển trong sự giao lưu với Trung Quốc và các nước trong khu vực. Bằng sự xuất hiện của nhiều danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đại Năng, Hoàng Đôn Hòa… đã để lại những công trình, những cách chữa bệnh công hiệu, những bài thuốc quý lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh ở thế kỷ XIV là một danh y nổi tiếng mở đường cho sự nghiên cứu thuốc Nam, xây dựng nền móng cho nền Đông y Việt Nam, vào thời mà hầu hết các nước Đông Nam Á đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền YHCT Trung Hoa thì Tuệ Tĩnh đã đưa ra quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” (thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam). Đây là quan điểm hết sức khoa học, vừa thể hiện tính nhân văn, nhân bản cao, vừa thể hiện được tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc. Với 2 Bộ sách nổi tiếng là “ Nam dược thần hiệu” và “ Hồng Nghĩa Giác Tư Y thư” là một cống hiến rất lớn cho đất nước tạo dựng nên một sự nghiệp y dược mang tính dân tộc, đại chúng và sáng tạo, làm nền móng cho nền YHCT Việt Nam. Dưới triều đại nhà Lê có đại danh y Lê Hữu Trác, hiệu là Hải Thượng Lãn Ông. Ông là người tâm huyết với nghề thuốc. Trong cuộc đời làm nghề y, Ông đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm để lại cho đời sau những tài sản vô giá. Bộ sách Hải Thượng Y tông tâm lĩnh từ lâu đã được Y giới Việt Nam xem là bộ Bách khoa toàn thư y học thế kỷ XVIII và cũng là bộ sách y học lớn nhất của nền Đông y Việt Nam. Bộ sách quý này không những đã làm “sách gối đầu giường” cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam hàng trăm năm trước đây, mà còn là một hệ thống y lý, di sản y học quý báu nhất của dân tộc được các nhà khoa học hiện đại đánh giá như là “một kỳ công y học của dân tộc và Thế giới”. Ông thật xứng đáng là người đã dựng “ngọn cờ đỏ thắm” trong nền y học nước nhà, là tấm gương sáng chói về y đức, y đạo, y thuật cho đời sau noi theo. Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945), YHCT vẫn được người dân đặc biệt là dân nghèo thành thị và hầu hết người dân nông thôn sử dụng mỗi khi đau ốm, nhờ vậy mà nó được bảo tồn và phát triển. Hòa bình lập lại, đánh giá cao vai trò và tiềm năng của nền YHCT trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, năm 1957, Đảng và Nhà nước đã cho thành lập Viện Đông Y Việt Nam và Vụ Đông Y – BYT nhằm mục đích đoàn kết giới lương y, những người hành nghề Đông y với người hành nghề Tây y thực hiện đường lối “Kế thừa, phát huy, phát triển YHCT, kết hợp với YHHĐ, xây dựng nền y học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng”. Trong những năm của thập kỷ 70 và những năm đầu của thập kỷ 80, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới KCB bằng YHCT từ TƯ đến địa phương. Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ đều có bệnh viện YHCT; trên 90% các bệnh viện YHHĐ có khoa YHCT. Tuy nhiên, vào những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, do ảnh hưởng bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường mà ngành y tế cũng như một số ngành khác chưa chuyển đổi kịp nên số TYT xã, phường có hoạt động YHCT trong cả nước giảm mạnh, trung bình cả nước chỉ còn 12% số TYT xã còn hoạt động KCB bằng YHCT.

Y học cổ truyền

      Mạng lưới KCB bằng YHCT tiếp tục ổn định và phát triển với 63 Bệnh viện YHCT, trong đó tuyến Trung ương 04 bệnh viện YHCT: 02 bệnh viện trực thuộc BYT là bệnh viện YHCT Trung ương và bệnh viện Châm cứu Trung ương. 01 bệnh viện YHCT trực thuộc Bộ Công an và 01 Viện YHCT thuộc Bộ Quốc phòng. Ngoài ra còn có Bệnh viện Tuệ Tĩnh là bệnh viện thực hành của Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam. Các bệnh viện này là các bệnh viện đầu ngành về YHCT, là đơn vị có kỹ thuật cao nhất, có chức năng chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện trong toàn quốc và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới. Tại tuyến tỉnh có 58 bệnh viện, tăng 05 bệnh viện so với năm 2010 (53 bệnh viện); trong đó có 03 tỉnh, thành phố có hai bệnh viện: Hà Nội, Hồ Chí Minh và Lâm Đồng, các bệnh viện này là đơn vị có kỹ thuật YHCT cao nhất tại tuyến tỉnh, có chức năng chỉ đạo tuyến cho các khoa YHCT trong bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới. Trong tổng số 63 bệnh viện YHCT: có 05 bệnh viện hạng I, 25 bệnh viện hạng II và 33 bệnh viện hạng III. Các bệnh viện YHCT phát triển đã cung cấp dịch vụ YHCT với YHHĐ nhằm đáp ứng nhu cầu CSSK ngày càng cao và đa dạng về cơ cấu bệnh tật của nhân dân, quy mô của bệnh viện ngày càng mở rộng với số giường trung bình là 152 giường/bệnh viện, số giường bệnh thực kê trung bình 176 giường/ bệnh viện (tăng 36 giường/ bệnh viện so với năm 2010). Tuy nhiên, số giường bệnh của YHCT còn thấp chiếm 12,4% so với tổng số giường bệnh chung, tăng 4,7% so với năm 2010. Bên cạnh sự phát triển của Bệnh viện YHCT, các bệnh viện đa khoa thành lập khoa YHCT chiếm khoảng 92,7%, tăng 3,2% so với năm 2010 đã làm tăng tỉ lệ người bệnh được điều trị bằng YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ trong bệnh viện đa khoa. Mạng lưới KCB bằng YHCT tại TYT xã ngày càng phát triển, tính đến thời điểm hiện tại 84,8% TYT có tổ chức KCB bằng YHCT, tăng 4,9% so với năm 2010, bên cạnh việc tổ chức KCB bằng YHCT, TYT xã còn tổ chức xây dựng vườn thuốc mẫu hướng dẫn người dân tại địa phương biết cách sử dụng cây thuốc sẵn có tại địa phương trong phòng và chữa một số bệnh thông thường, số TYT xã có vườn thuốc Nam tăng từ 79,9% năm 2010 lên 89% năm 2015. Bên cạnh sự quan tâm chỉ đạo đầu tư phát triển mạng lưới KCB bằng YHCT công lập thì mạng lưới KCB bằng YHCT cũng được các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng và tổ chức thực hiện; tính đến năm 2015 có 03 bệnh viện YHCT tư nhân và hơn 3.772 phòng chẩn trị YHCT. Ngoài mạng lưới CSSK bằng YHCT công lập còn có Hội Đông y phát triển mạnh mẽ cả ở 4 cấp với trên 70.000 hội viên đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và CSSK nhân dân, đồng thời gìn giữ bản sắc của YHCT Việt Nam.

Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của YHCT, cụ thể là: Quyết định 222/QĐ-TTg ngày 03/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách Quốc gia về YDHCT đến năm 2010; Quyết định 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động về phát triển YHCT Việt Nam đến năm 2020…  về cơ bản đã hoàn thiện chính sách đối với việc phát triển YHCT Việt Nam. Tuy nhiên, phải nhìn nhận đánh giá thực tế về YHCT Việt Nam dưới một số góc độ.

      Một là hệ thống đào tạo hầu hết các trường Đại học y dược, Cao đẳng, Trung cấp y tế đều đã có khoa, bộ môn đào tạo về nhân lực y dược cổ truyền. Tuy nhiên đào tạo nhân lực y tế còn nặng về truyền đạt lý thuyết, khả năng thực hành hạn chế, việc phân bổ nguồn nhân lực chưa hợp lý, thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng giữa các vùng, các tuyến. Công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ YHCT các cấp chưa được quan tâm đúng mức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ YHCT chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới, mạng lưới các cơ sở khám, chẩn trị bệnh của YHCT chưa được tổ chức đều khắp trong cả nước.Việc mở rộng các hình thức đào tạo và đánh giá hiệu quả của các hình thức đào tạo, đặc biệt là hình thức đào tạo nhân lực cho miền núi, vùng sâu,vùng xa chưa được quan tâm đúng mực. Chưa có hình thức đãi ngộ thích đáng để thu hút và duy trì cán bộ y tế làm việc ở tuyến cơ sở, ở khu vực vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn.

      Hai là báo cáo tổng kết chính sách quốc gia về YDCT 2003 – 2010, triển khai Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển YHCT Việt Nam đến năm 2020 của Bộ Y tế (2011), thì công tác tuyên truyền, tư vấn sử dụng các biện pháp khám chữa bệnh và CSSK ban đầu bằng thuốc YHCT và phương pháp không dùng thuốc tại nhiều địa phương chưa được coi trọng. Hiện nay việc hướng dẫn nhân dân trồng và sử dụng thuốc Nam và các phương pháp không dùng thuốc để phòng và chữa bệnh còn hạn chế thậm trí chỉ làm cho đủ đầu việc. Hậu quả là sự hiểu biết của người dân trong việc sử dụng thuốc Nam và các phương pháp không dùng thuốc đề phòng và chữa bệnh còn hạn chế.

      Ba là do sự phát triển của cơ chế thị trường, thiên về lợi nhuận mà quên đi giá trị cao đẹp của YHCT, nhiều cơ sở sản xuất thuốc thuốc giả, thuốc kém chất lượng chưa được quản lý chặt chẽ. Cụ thể trong lĩnh vực YHCT thường xuyên có những sản phẩm kém chất lượng tung ra thì trường mà không được các cơ quan chức năng kiểm soát.

Ngày 17-7-2018 Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về phát triển nền Đông Y Việt Nam và Hội Đông Y Việt Nam trong tình hình mới

      Giải quyết vấn đề trên, chúng ta cần làm tốt một số việc quan trọng, cấp thiết để bảo tồn và phát huy nền YHCT của Việt Nam, đó là:

      – Tập trung phát triển nguồn nhân lực về YHCT đáp ứng nhu cầu thực tiễn khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở cấp xã, phường, thị trấn. Các cơ sở đào tạo phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, hình thành các bộ môn chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực như: Tiêu hóa, tiết niệu, cơ xương khớp… Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực YHCT bằng việc tăng cường vai trò trách nhiệm, không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo của các cơ sở đào tạo nhân lực YHCT trong cả nước với yêu cầu sản phẩm đầu ra là thầy thuốc YHCT phải hiểu sâu về y lý của YHCT để có thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn các kiến thức về YHCT trong khám bệnh, chẩn đoán, điều trị đồng thời có kiến thức về YHHĐ để có thể kết hợp hài hòa YHCT với YHHĐ trong tất cả các khâu từ khám bệnh, chẩn đoán và điều trị.

      – Tập trung phát triển mạng lưới y tế cộng đồng tuyến dưới cấp xã, phường, thị trấn như các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân của các Lương y có tay nghề, có bài thuốc gia truyền. Nghiên cứu và đưa ra những bài thuốc mới trong khám, chữa bệnh để tạo nên giá trị đích thực cho YHCT Việt Nam.

      – Kết hợp điều trị YHCT và Y học hiện đại để tìm ra các phác đồ điều trị mới, giảm thiểu rủi ro do thuốc vô cơ có tác dụng phụ gây nên. Quản lý chặt chẽ các cơ sở khám chữa bệnh, bốc thuốc không có giấy phép, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuyệt đối không buông lỏng việc cấp phép, quản lý và kinh doanh cho các cơ sở sản xuất các sản phẩm Y – Dược cổ truyền theo phương pháp hiện đại.

      Để góp phần quản lý chất lượng, minh bạch nguồn gốc xuất xứ sản phẩm trên thị trường nói chung và thị trường online nói riêng hiện nay. Tại dự án NAM Y MART, chúng tôi đã nghiên cứu thành công công nghệ Truy xuất nguồn gốc với nhiều ưu điểm vượt trội về công nghệ. Với sáng chế này, chúng tôi tập trung vào việc minh bạch nguồn dược liệu, quy trình sản xuất (tiêu chuẩn thiết bị) và quy trình phân phối sản phẩm (từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng). Với mong muốn loại trừ hàng giả, hàng kém chất lượng đang ngày ngày xâm lấn vào các ngõ ngách, gây hại cho cuộc sống của mỗi người dân Việt Nam.

Đăng ký nhận

Thông tin dự án

CÔNG TY CP CÔNG NGHỆ VÀ SỐ HÓA TOÀN CẦU

Số 27, Lô 5, Khu nhà ở CBNV VP TƯ Đảng và Báo Nhân Dân, Trịnh Văn Bô, P. Xuân Phương, Q. Nam Từ Liêm, Hà Nội

HOTLINE: 081 321 5555